USAID
Chương trình Rừng và Đồng bằng Việt Nam (VFD) của USAID đã hỗ trợ Việt Nam chuyển đổi theo hướng phát triển bền vững hơn từ năm 2012 đến năm 2021.
2021 · 2 pages

Abstract
Giai đoạn 2 của chương trình, bắt đầu từ năm 2018, tập trung vào việc hỗ trợ chính phủ Việt Nam (CPVN) nâng cao tính hiệu quả của hệ thống chi trả dịch vụ môi trường rừng (CTDVMTR) góp phần thực hiện các mục tiêu môi trường và kinh tế xã hội. CTDVMTR là cơ chế quan trọng yêu cầu người sử dụng dịch vụ chi trả cho các nhà cung cấp dịch vụ. Mục đích của đánh giá này là tìm hiểu những thay đổi mang lại bởi giai đoạn 2 của chương trình VFD, những thách thức gặp phải trong quá trình thực hiện, các yếu tố ảnh hưởng đến thành công và thách thức đối với chương trình cũng như những đóng góp của chương trình trong việc thay đổi và thực hiện chính sách. Đánh giá sử dụng phương pháp hỗn hợp bao gồm nghiên cứu tài liệu thứ cấp, phỏng vấn cá nhân chủ chốt (KII), thảo luận nhóm (FGD), kết hợp với quan sát thực địa. Nhóm đánh giá xác định được 7 thay đổi chính, bao gồm cải thiện trong quản lý và bảo vệ rừng, tăng cường tính minh bạch trong CTDVMTR thông qua thanh toán trực tuyến, giao lại đất rừng và cải thiện tính chính xác của giấy sở hữu rừng, cải thiện hệ thống giám sát và đánh giá CTDVMTR, tăng cường sự tham gia và tính bao trùm của các bên liên quan, các bên liên quan cởi mở hơn với các nỗ lực bảo vệ môi trường và cải thiện việc thực hiện các chính sách và chiến lược của ngành. Các chuyên gia được tham vấn cho rằng những cải thiện trong bảo vệ rừng, thay đổi nhận thức của các bên liên quan, tăng cường sự tham gia và tính bao trùm là những thay đổi bền vững nhất. Họ cũng nhận thấy rằng VFD có vai trò đóng góp lớn nhất trong việc phân bổ lại đất rừng và điều chỉnh giấy tờ sở hữu rừng, cũng như cải thiện việc thực hiện các chính sách và chiến lược của CPVN. Một trong những câu chuyện thành công của chương trình là việc giao lại đất rừng của bản Chén, một trong ba bản của xã Mường Khoa, tỉnh Sơn La. Thông qua trao đổi, thảo luận và tiếp cận cộng đồng, các thành viên trong bản đã đồng ý chuyển đất rừng của các hộ gia đình cá nhân thành đất thuộc sở hữu của cộng đồng. Điều này đã có thể thực hiện được là do người dân nhìn thấy được những lợi ích trong cách tiếp cận của hình thức sở hữu cộng đồng so với hình thức sở hữu hộ gia đình cá nhân trước đây. Tuy nhiên, nhóm đánh giá cũng xác định những thách thức chính trong việc triển khai giai đoạn 2 của VFD, bao gồm thiếu các động lực khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp trong các sáng kiến môi trường, sự hạn chế về nguồn lực trong bối cảnh có nhiều ưu tiên chính trị, hệ thống và công cụ giám sát và đánh giá chưa hoàn thiện, và những thách thức trong việc xây dựng sự đoàn kết và đồng thuận giữa các bên liên quan khác nhau. Bài học kinh nghiệm của chương trình là hợp tác, học hỏi và thích ứng (CLA) một cách hiệu quả chính là chìa khóa thành công của chương trình. Vượt qua những thách thức nêu trên, VFD đã thành công trong việc đạt được các mục tiêu chương trình nhờ hợp tác hiệu quả giữa các đối tác trong nước và giữa đối tác Việt Nam với các cơ quan quốc tế, hỗ trợ chính trị và cam kết mạnh mẽ của CPVN và chính quyền địa phương, tính làm chủ của các bên liên quan Việt Nam đối với các sáng kiến và kết quả dự án, và lập kế hoạch và ngân sách một cách linh hoạt, thích ứng. Các khuyến nghị của chương trình bao gồm tiếp tục hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật cho việc rà soát, phân bổ và cấp lại sổ đỏ cho đất rừng của các hộ gia đình đủ điều kiện nhận DVMTR và có kế hoạch chuyển đổi từ sở hữu rừng theo hộ gia đình cá nhân sang sở hữu rừng thôn/ cộng đồng, tiếp tục hỗ trợ các chính sách liên quan đến quản lý và bảo vệ rừng bền vững, cho phép một sự linh hoạt nhất định trong việc xây dựng kế hoạch tổng thể và phân bổ ngân sách nhằm tạo điều kiện cho điều chỉnh, thích ứng và sửa chữa trong quá trình triển khai, và khuyến khích sự tham gia trực tiếp từ cộng đồng địa phương vào các hoạt động như cải thiện sinh kế ở những nơi có năng lực phù hợp.
Classification
USAID DEC