USAID DEC
Chương trình nghiên cứu "Quản trị nguồn nước trong cộng đồng dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long" được tài trợ bởi Quỹ tăng cường tham gia nghiên cứu khoa học (PEER) của Viện Hàn Lâm Khoa học Hoa Kỳ (NAS).
2017 · 2 pages

Abstract
Chương trình này được thực hiện bởi Trường Đại học An Giang, Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Nông thôn và các đối tác nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu là tìm hiểu kiến thức bản địa của người Khmer trong việc tiếp cận, phân phối nước, quản trị nước khan hiếm tại cộng đồng; khám phá các quy tắc xã hội, luật lệ của người Khmer trong việc chia sẻ và tiếp cận nguồn nước khan hiếm tại cộng đồng; xác định vai trò của các mạng lưới xã hội chính thống và phi chính thống trong việc tiếp cận và phân phối nước trong cộng đồng Khmer. Người Khmer chiếm 1.05% dân số Việt Nam và 7.2% trên tổng số người đang sinh sống tại Đồng bằng sông Cửu Long. Họ là một trong những cộng đồng dễ bị tổn thương nhất với biến đổi khí hậu (BĐKH). 35% trong tổng số người Khmer đang sống trong điều kiện khó khăn, sinh kế của họ phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nước ngầm cạn để sản xuất và sinh hoạt. Nguồn nước ngầm có nguy cơ bị nhiễm Arsenic và khan hiếm do khai thác quá mức cùng với sự tác động bởi BĐKH. Ngoài ra, có một số nguồn nước quan trọng khác như nước mưa, ao, và hồ quanh chùa, nhưng người Khmer vẫn chưa đủ điều kiện để sử dụng trong mùa khô. Mặt khác, những ao hồ cũng đã và đang bị khô hạn do ảnh hưởng bởi BĐKH. Mặt khác, nguồn nước đã và đang bị ảnh hưởng bởi thay đổi chế độ thủy văn (xâm nhập mặn, nhiễm phèn) → họ càng dễ bị tổn thương hơn trước tác động của BĐKH. Người Khmer có truyền thống lâu đời trong việc ứng dụng kiến thức bản địa (KTBĐ) để xác định nguồn nước, đánh giá chất lượng và quản lý nước. Tuy nhiên, KTBĐ vẫn chưa được công nhận và xem xét bởi các nhà hoạch định cấp TƯ, tỉnh và địa phương trong việc quản trị nước. Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm nâng cao vai trò của kiến thức bản địa, các chuẩn mực, văn hóa của người Khmer trong quản trị nước nhằm nâng cao khả năng phục hồi của cộng đồng đối với các ảnh hưởng của BĐKH. Mô hình trữ nước mưa được đề xuất để giải quyết tình trạng thiếu nước trong mùa khô. Nhu cầu thực tế của mô hình là để cung cấp nước sạch cho sinh hoạt và sản xuất của người dân trong cộng đồng. Hiện nay, nước máy đã được cung cấp trên 80% diện tích, nhưng thực tế vào mùa khô, vẫn thường xuyên thiếu nước, gây áp lực lớn đến các nguồn nước trong chùa. Ngoài ra, các nguồn nước trong các chùa có xu hướng ít đi, các dụng cụ trữ nước mưa hiện nay rất thiếu và không đáp ứng được nhu cầu thực tế. Nhóm nghiên cứu đã phát hiện, các lễ hội trong các chùa Khmer diễn ra nhiều và liên tục, cần có một lượng nước lớn để sử dụng. Theo các sư ở chùa Tà Ngáo, với mỗi lễ hội có thể sử dụng đến 3–4m3 nước. Hiện có hơn 100 lễ hội văn hoá lớn nhỏ tại các chùa Khmer trong năm. Với mỗi lễ hội như vậy thì lượng nước sạch cần thiết cho sinh hoạt của người dân tham gia là rất lớn. Thêm vào đó, có khoảng 100 đến 300 hộ dân sinh sống lân cận khu vực chùa, 1 trường tiểu học, và 1 trường mẫu giáo cũng cần nhiều nước sử dụng trong mùa khô lẫn mùa mưa. Do đó, việc triển khai hệ thống trữ nước mưa tại chùa Tà Ngáo là rất cần thiết trong tình hình thiếu nước hiện nay ở tỉnh An Giang. Hệ thống trữ nước mưa được đề xuất bao gồm bồn chứa nước mưa 50 m3, bồn lọc nước 200 lít, bồn chứa nước sạch 1 m3. Tiêu chuẩn kỹ thuật của hệ thống là QCVN 02:2009/BYT.
Classification