SOCIAL IMPACT, INC.
Giải pháp phát thải thấp (LET) để giảm phát thải khí mê-tan (CH4) trong sản xuất lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bao gồm 7 phương án, được phân loại thành 4 nhóm: Quản lý nước, Quản lý cây trồng tổng hợp, Tăng cường khả năng quản lý rơm rạ và phụ phẩm nông nghiệp, và Chuyển đổi sử dụng đất từ cây lúa kém hiệu quả sang các mô hình canh tác khác.
2023 · 2 pages

Abstract
Quản lý nước là một trong những cách tiếp cận được áp dụng rộng rãi nhất ở ĐBSCL, bao gồm phương pháp tưới khô xen kẽ (AWD) và thoát nước giữa vụ (MSD). Quản lý cây trồng tổng hợp cũng được áp dụng rộng rãi, bao gồm áp dụng ba giảm - ba tăng (3G3T) và một phải - năm giảm (1P5G). Chuyển đổi sử dụng đất từ cây lúa kém hiệu quả sang cây ăn quả và rau màu cũng là một phương án khả thi để giảm phát thải khí mê-tan đang được khuyến khích ở ĐBSCL. ĐBSCL có lợi thế rõ rệt về trồng cây ăn quả và rau màu nhờ điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi. Chuyển đổi có thể tăng thu nhập cho nông dân, cải thiện đa dạng sinh học và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang trồng cây trồng cạn như cây rau màu, cây lâu năm và cây ăn quả là một định hướng chiến lược để thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu của ĐBSCL trong những năm gần đây. Chăn nuôi gia súc nhai lại (bò và bò sữa) đóng vai trò quan trọng trong sinh kế và phát triển kinh tế của nông dân ĐBSCL, đặc biệt là các nhóm người dân tộc thiểu số ở tỉnh Sóc Trăng. Cải thiện khẩu phần thức ăn thông qua sử dụng thức ăn ủ chua và bổ sung than sinh học, tăng thức ăn tinh, ủ phân hữu cơ và xây hầm khí sinh học để xử lý phân bò có thể là những giải pháp tiềm năng để giảm phát thải khí mê-tan trong chăn nuôi ở ĐBSCL. ĐBSCL có diện tích rừng ngập mặn lớn nhất Việt Nam, chiếm khoảng 55% tổng diện tích rừng ngập mặn toàn quốc. Chi phí phục hồi rừng ngập mặn phụ thuộc vào điều kiện lập địa của từng địa điểm và biến động từ 4.100 đến 8.343 đô la Mỹ/ha trong vòng 4 năm. Khả năng hấp thụ các-bon của rừng ngập mặn là khác nhau giữa các loài cây và giữa các biện pháp can thiệp trong quản lý rừng, với tốc độ hấp thụ các-bon trung bình là khoảng 24,5 tấn các-bon-níc (CO2) cho mỗi ha mỗi năm. Các hệ sinh thái các-bon xanh khác ở ĐBSCL là cỏ biển và rừng tràm. ĐBSCL có khoảng 15.000 ha cỏ biển, phân bố chủ yếu ở đảo Phú Quốc và 50.000 ha rừng tràm, phân bố chủ yếu ở khu vực ven biển Cà Mau. Cỏ biển đã bị suy thoái do các hoạt động của con người như du lịch, đô thị hóa, nuôi trồng thủy sản và ô nhiễm nước. Trong khi đó, diện tích rừng tràm đang giảm nhanh chóng, nguyên nhân chủ yếu là do cháy rừng bởi khai thác mật ong, chuyển đổi rừng tràm sang trồng rừng keo và các hoạt động chuyển đổi mục đích sử dụng đất liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội. USAID đã ký một biên bản ghi nhớ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (MARD) trong khuôn khổ nỗ lực mở rộng hỗ trợ Việt Nam trong thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính (KNK) trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt ở ĐBSCL. Đánh giá này được thực hiện nhằm mang lại những kiến thức và hiểu biết chung về các cơ hội liên quan để giảm phát thải khí nhà kính ở ĐBSCL và các biện pháp can thiệp có khả năng mang lại đồng lợi ích lớn nhất cho bảo tồn đa dạng sinh học và thích ứng với biến đổi khí hậu. Dữ liệu được thu thập từ cả nguồn sơ cấp và thứ cấp, bao gồm các tài liệu, số liệu thống kê, phỏng vấn sâu (KII) và thảo luận nhóm (FGD). Dữ liệu thu thập được phân tích bằng phương pháp MART (có thể đo lường, có thể áp dụng, thực tế và giới hạn thời gian), phân tích chi phí - lợi ích và phân tích chi phí biên của các giải pháp (MAC) để so sánh hiệu quả kinh tế và đồng lợi ích của các biện
Connected topics
Classification
USAID DEC